THÁNH TÔMA TRẦN VĂN THIỆN

(1820-1838)

 Chủng sinh, trẻ người nhưng không non dạ

 

Tôma Trần Văn Thiện sinh tại Trung Quán, tỉnh Quảng Bình, năm 1920,  trong một gia đình đạo đức đã trải qua hai đời tin theo Ðạo Chúa.

Tôma Thiện từ nhỏ đã tỏ ra đạo đức khôn ngoan và lễ độ. Năm lên 8, cậu đã theo học chữ Nho với cha Thọ. Sau khi đã học tiếng La Tinh với Cha Wial, năm 18 tuổi, Tôma Thiện được giới thiệu vào Chủng Viện Di Loan, Quảng Trị, do Cha Candalh (cố Kim) điều khiển. Bình minh sáng mùng 6 tháng 6 năm 1838, quân lính mở cuộc phong tỏa Di Loan, lùng bắt cố Kim về tội cả gan thiết lập một trường đạo ở đây. Cố Kim đã kịp trốn thoát. Ðám lính liền bắt một số giáo hữu, trong đó có hai chị em Tôma Thiện cũng vừa mới tới Di Loan. Tất cả đều bị giải về Quảng Trị.

Trong khi hỏi cung, thấy Tôma Thiện khôi ngô tuấn tú, đối đáp nhanh nhẹn hoạt bát, có vẻ con nhà nho sĩ, các quan nghi ngờ cậu là đồ đệ của đạo trưởng, càng giữ lại lâu để vặn hỏi cặn kẽ hơn. Tôma khai mình mới từ Quảng Trị vào, chưa kể gặp cố Kim (Cha Candalh), nhưng hiên ngang xưng mình là người có đạo, không chút sợ hãi. Cậu xác quyết một lòng thờ phượng Thiên Chúa tạo thành trời đất, thà chết chẳng thà bỏ đạo.

Trước sự cứng cỏi của chàng thanh niên 18 tuổi,  quan thẩm tra bèn quay sang đấu dịu: “Cậu là con nhà nho sĩ,  tương lai cậu sẽ tốt đẹp. Nếu cậu bỏ đạo, tôi sẽ gả con gái cho, và liệu cho cậu nên quan”.

Tôma Thiện ngẩng đầu lên, chỉ trời mà nói: “Tôi ao ước chức tước ở trên trời mà thôi,  còn phẩm hàm ở đời này tôi chẳng màng.”

Câu nói khí thái của Tôma Thiện làm cho quan không còn bình tĩnh được nữa. Ông quát tháo ầm  ĩ và truyền cho lính: “Ðem nó nọc xuống, đánh một trận cho nó biết thân.”

Dưới trận mưa đòn, anh hùng trẻ tuổi Tôma Thiện chẳng chút sờn lòng. Cậu còn sung sướng nói lên: “Ôi hạnh phúc thay tôi được đổ máu vì Chúa”.

Sáng hôm sau, ngày 18-7-1832, lính đưa vào nhà lao một người tù mới, Cha Jaccard. Tôma Trần Văn Thiện hết lòng cám đội ơn Chúa đã ban cho mình một vị linh mục để chia vui sẻ buồn cùng để gíup cậu nung thêm ý chí phấn đấu đón nhận những cực hình đang chờ đợi tiếp sau. Ngày 16-8, cha Jaccard  và Tôma Thiện lại bị đưa ra pháp trường, không phải để chịu chết mà là để nhận một trận đòn nữa đau đớn hơn.

Một hôm, cửa ngục lại mở. Lần này có mấy cụ đồ vào “thăm” cậu Thiện. Vì nghe biết tiếng cậu, các cụ tự cho mình “lỗi đạo với thầy Khổng Tử nếu không đến giục cậu cải tà quy chánh”. Các cụ trưng đủ mọi lý lẽ và lời hay ý đẹp của thánh hiền để làm mềm lòng cậu Thiện cho cậu bỏ đạo. Tôma Thiện không buồn đáp một lời khiến các cụ thất vọng kéo nhau rút lui, vừa đi vừa lẩm bẩm: “Ngu giả bất cập. Sách nói không sai”.

Ngày 18-9-1832, vua Minh Mạng châu phê bản án tử hình Cha Jaccard và Tôma Thiện. Ngày 21-9, một toán lính cùng hai võ quan cưỡi ngựa vào ngục thất. Bản án được tuyên đọc. Lính điệu cha Jaccard và Tôma Thiện ra pháp trường. Nơi xử là Phan Biều, bên kia sông, đối diện với thành Quảng Trị.

Theo yêu cầu của Cha Jaccard, lính cho Cha và Tôma Thiện cùng quỳ mặt đối mặt nhau. Hai dây thòng lọng tròng vào cổ hai Cha con. Hồi chiêng trống vừa dứt, Tôma Thiện ngước mắt trông lên trời, quân lính hai đầu dây, nắm kéo dây thật mạnh. Tôma Thiện gục đầu tắt thở. Sau khi chứng kiến cái chết anh hùng của cậu chủng sinh can đảm, Cha Jaccard cũng đưa cổ ra, chịu hành hình y như vậy.

Tôma Trần Văn Thiện được Ðức Lêô XIII tôn phong Chân Phước ngày 27-5-1900. Tên của vị Anh Hùng Tuổi Trẻ được Ðức Gioan Phaolô II chính thức và long trọng ghi vào sổ các Thánh ngày 19-6-1988.

 

 

 

Tôma Trần Văn Thiện, chủng sinh, thầy giảng; sanh 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình; chết 21 tháng 9, 1838, tại Nhan Biều. Ngài thụ huấn với Hội Thừa Sai Balê, và đang chuan bị để được thụ phong linh mục vào lúc bị bắt. Sau khi bị đánh noon, ngài bị xử giảo (thắt cổ) chết lúc mới có 18 tuổi. Phong Á Thánh 1900. Ngày Lễ: 21 tháng 9.

Thien Van Tran, Tomas (Thomas Tran Thien, Thomas Tran van Thien, Tôma Trần Văn Thiện), seminarian, lay catechist; b. 1820 at Trung Quán, Quảng Bình, Cochin-China; d. Sept. 21, 1838, in Nhan Biều, Annam. He was studying with MEP, preparing for ordination at the time of his arrest. After being scourged, he was strangled at the age of about 18. Beatified 1900. Feast: Sept. 21.

001. Phêrô Almato Bình

002. Berrio-Ochoa Vinh

003. Gioan Lu-i Bô-na Hương

004. Phaolô Tống Viết Bường

005. Giuse Phạm Trọng Tả

006. Ða Minh Cấm

007. Phanxicô Xaviê Cần

008. Giuse Hoàng Lương Cảnh

009. Catanhêđa, Jacinto Gia

010. Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu

011. Gioan Baotixita Cỏn

012. Jean-Charles Cornay Tân

013. Stêphanô-Théodore Cuénot Thể

014. Matthêô Nguyễn Văn Ðắc (Phượng)

015. Phêrô Ða

016. Ðaminh Ðinh Ðạt

017. Gioan Ðạt

018. Tôma Nguyễn Văn Ðệ

019. Clêmentê Ignaxiô Delgaho Hy

020. Giuse Maria Diaz Sanjuro An

021. Antôn Nguyễn Ðích

022. Vinh Sơn Nguyễn Thế Ðiểm

023. Tôma Ðinh Viết Dụ

024. Bênađô Võ Văn Duệ

025. Phêrô Dumoulin-Borie Cao

026. Anrê Trần An Dũng (Lạc)

027. Phêrô Ðinh Văn Dũng

028. Phaolô Vũ Văn Dương (Ðổng)

029. Phêrô Trương Văn Ðường

030. Vinh-sơn Dương

031. Giuse Fernandez Hiền

032. Phanxicô-Isidore Gagelin Kính

033. Matthêô Lê Văn Gẫm

034. Melchior Garcia-Sampedro Xuyên

035. Phanxicô Gil de Fedrich Tế

036. Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh

037. Phaolô Hạnh

038. Ðaminh Henares Minh

039. Jêrônimô Hermosilla Liêm

040. Giuse Ðỗ Quang Hiến

041. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu

042. Simon Phan Ðắc Hòa

043. Gioan Ðoàn Trinh Hoan

044. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng

045. Augustinô Phan Viết Huy

046. Ðaminh Huyện

047. Micae Hồ Ðình Hy

048. Phanxicô Jaccard Phan

049. Ðaminh Phạm Trọng Khảm

050. Giuse Nguyễn Duy Khang

051. Phêrô Khanh

052. Phêrô Võ Ðăng Khoa

053. Phaolô Phạm Khắc Khoan

054. Tôma Khuông

055. Matthêô Alonzo-Leciniana Ðậu

056. Vinh-sơn Lê Quang Liêm

057. Luca Vũ Bá Loan

058. Phaolô Lê Văn Lộc

059. Giuse Nguyễn Văn Lựu

060. Phêrô Nguyễn Văn Lựu

061. Ðaminh Mạo

062. Ðaminh Mầu

063. Giuse Marchand Du

064. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu

065. Philiphê Phan Văn Minh

066. Augustinô Nguyễn Văn Mới

067. Micae Nguyễn Huy Mỹ

068. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ

069. Giacôbê Ðỗ Mai Năm

070. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông)

071. Phêrô Phanxicô Néron Bắc

072. Phaolô Nguyễn Ngân

073. Giuse Nguyễn Ðình Nghi

074. Lôrensô Ngôn

075. Ðaminh Nguyên

076. Ðaminh Nhi

077. Ðaminh Ninh

078. Emanuen Lê Văn Phụng

079. Phêrô Ðoàn Công Quý

080. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh-Nam

081. Augustine Schoeffler Ðông

082. Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê)

083. Gioan Baotixita Ðinh Văn Thành

084. Nicôla Bùi Ðức Thể

085. Giuse Lê Ðăng Thị

086. Phêrô Trương Văn Thi

087. Mactinô Tạ Ðức Thịnh

088. Tôma Trần Văn Thiện

089. Luca Phạm Trọng Thìn

090. Máctinô Thọ

091. Phêrô Thuần

092. Phaolô Lê Bảo Tịnh

093. Ðaminh Toái

094. Tôma Toán

095. Ðaminh Trạch (Ðoài)

096. Êmanuen Nguyễn Văn Triệu

097. Anrê Trần Văn Trông

098. Phêrô Vũ Văn Truật

099. Phanxicô Trần Văn Trung

100. Giuse Tuân

101. Giuse Tuân

102. Phêrô Nguyễn Bá Tuần

103. Giuse Túc

104. Phêrô Nguyễn Khắc Tự

105. Phêrô Nguyễn Văn Tự

106. Ðaminh Tước

107. Anrê Tường

108. Vinh-Sơn Tường

109. Phêrô Lê Tùy

110. Ðaminh Bùi Văn Úy

111. Giuse Nguyễn Ðình Uyển

112. Phêrô Ðoàn Văn Vân

113. Giuse Thêophanô Vénard Ven

114. Giuse Ðặng Ðình Viên

115. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh

116. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên

117. Vinh Sơn Ðỗ Yến