Thánh Linh Mục Phêrô Trương Văn Thi

(bị bắt 10-11-1893, xử trảm 21-12-1839)

 

Cha Phêrô Trương Văn Thi sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nội, trong một gia đình rất đạo đức. Ngài có cháu ruột cũng tử vì đạo là Thánh Ðường.

Vì cha mẹ nghèo, từ nhỏ cậu Thi phải đi chăn trâu cho nhà dòng ở Kẻ Ðầm cũng thuộc một nhà Kẻ Sở. Các bà thấy cậu Thi có nết na lễ độ thì xin cha xứ nuôi và cho vào nhà Ðức Chúa Trời. Năm ấy cậu được 12 tuổi. Sau nhiều năm học La tinh trong nhà tràng, cậu Thi được chính thức nhận vào bậc kẻ giảng năm 1796. Thầy Thi sốt sắng và nhiệt thành với bổn phận, lại có nhiều năng khiếu nên được bề trên gọi về học thần học và chịu chức linh mục ngày 22-3-1806. Năm ấy cha được 43 tuổi.

Trước hêt Cha Thi được bổ nhiệm coi xứ Sông Chảy thuộc vùng Hưng-Tuyên. Ngài ở đó 27 năm cho đến năm 1833. Giáo dân đã làm chứng về ngài như sau: “Cha Thi là người nhân đức khác thường, mỗi ngày ngài đọc kinh lâu giờ ba bốn lần, làm lễ nghiêm trang, hay bị sốt và đau bụng, có nhân đức tiết kiệm, khắc khổ trong việc ăn uống và thường ăn chay các ngày thứ Sáu”.

Ðức Cha Phó Jeantet (Du) cũng khen Cha như sau: “Tôi quen biết Cha Thi từ năm 1835 và rất thán phục cha là người phúc độ sốt sắng, trung thành tuân giữ các luật chung, hiền lành và khôn ngoan.

Ðặc biệt Cha Thi trổi trang về nhân đức khó nghèo và muốn cho mọi người khác cũng bắt chước yêu chuộng nhân đức ấy. Cha chỉ mặc áo vải nâu và đội khăn sồi mà thôi. Tại nhà xứ, mọi người trong nhà phải giữ phép tắc, chăm chỉ học hành, đọc sách và không được chuyện trò lâu với đàn bà. Chính Cha Thi khi tiếp khách cũng rất mực khiêm tốn, ít lời, nhưng với các cha khác thì ngài vui vẻ vồn vã hơn. Mỗi năm ngài chỉ ở trong xứ hai tháng, còn lại đi thăm các họ lẻ, sốt sắng dạy dỗ và khuyên bảo con chiên bổn đạo. Có một lần đi làm phúc ở họ Thác Ba ngài bị đắm thuyền, người giúp việc chết đuối nhưng ngài nhờ ôm hòm đồ lễ đã thóat nạn.

Năm 1833, Cha Thi đã 70 tuổi được bề trên đổi về Kẻ Sông trong sự nhớ nhung của bổn đạo xứ Sông Chảy. Thời kỳ này có cuộc bắt đạo dữ dội, Cha Thi phải trốn ẩn trong nhà giáo dân không thể đi làm phúc được. Nhiều khi người ta không dám mời ngài đi giúp bệnh nhân sắp chết vì sợ ngài bị bắt, nhưng ngài bảo họ phải liệu mọi cách để giúp người sắp chết, còn nếu Chúa muốn cho phải chịu khổ vì đạo thì hoàn toàn phó thác theo ý Chúa. Dù tuổi cao sức yếu và hay bị bệnh Cha Thi vẫn không bao giờ kêu ca, mà vẫn luôn yên ủi và niềm nở với mọi người. Ngài ở Kẻ Sông được 7 năm thì ý Chúa muốn cho Cha được làm chứng nhân lời chân thật ngài đã rao giảng bằng cái chết anh hùng vì đức tin.

Cha Dũng (Lạc) ở xứ bên cạnh thường sang gặp Cha Thi để bàn hỏi và xưng tội. Ngày 10-11-1839, hai cha đang ở nhà ông khán Hộ thì ông lý trưởng Pháp cùng với bốn gia nhân đến bắt. Lúc bấy giờ là giữa trưa. Hay tin, Cha Thi vội đi trốn vào phòng  riêng nhưng Lý Pháp đã theo sát ngài và bắt ngài trói lại. Cha Dũng bị bắt luôn. Sau một hồi lâu Lý Pháp cởi trói cho hai cha và mời cùng ngồi để đàm luận. Lý Pháp bắt đầu nói với hai cha: “Tại sao có lệnh vua cấm đạo rồi mà các ông cứ lét lút dạy đạo?”

Cha Thi đáp: “Thiên Chúa sai chúng tôi đi để dạy người ta tập tành nhân đức làm việc thiện, tôn kính cha mẹ. Ðạo chúng tôi không dạy điều gì sai trái cả”.  “Dù đạo phải hay trái, không thành vấn đề, nhưng có lệnh vua cấm thì tôi bắc các ông”.

Các ngài đáp lại điều đó tùy ý quan. Tuy nói là lệnh vua cấm nhưng ông lý trưởng đã đề nghị nộp cho ông 300 quan tiền ông sẽ trả tự do. Các cha nói với ông điều đó tùy giáo dân. Quan cho gọi người đứng đầu trong họ đạo để dàn xếp nội vụ. Giáo dân chỉ có 200 quan để nộp nên ông chỉ trả tự do cho Cha Lạc, còn bắt Cha Thi. Khi trở về, Cha Lạc lại bị bắt lần nữa khiến ông lý trưởng sợ lộ tẩy đã phải giải Cha Thi về huyện quan Bình Lục. Trên đường hai cha gặp lại nhau trong cảnh tù đày.

Quan huyện được giáo dân đút lót chút đỉnh nên làm tờ phúc trình bắt được các cụ ở ngoài đồng để giáo dân không ai bị liên lụy. Thấy Cha Thi có tuổi mà trời rất lạnh, quan huyện mới hỏi Cha Thi xem có chăn đắp không thì người lính nói thay là Lý Pháp đã lấy rồi. Quan truyền lệnh phải trả chăn lại cho cụ Thi. Quan huyện tiếp đón ngài rất tử tế, mời các ngài ngồi trên phản có chiếu sạch. Khi giáo dân dọn cơm thì quan bắt lấy mâm của mình mà dọn cho các ngài. Sau ba ngày, quan huyện giải hai cha về Hà Nội, có đông giáo dân theo khóc lóc. Thấy vậy quan huyện nói: “Ðạo dạy những gì mà giáo dân thương tiếc các cụ như thế?”

Một bà đạo đức đứng gần thưa lại quan: “Bẩm quan lớn, các cụ dạy chúng tôi những điều nhân đức, chồng phải hiền lành, đừng cờ bạc, rượu chè, còn vợ thì phải biết nhịn nhục, vâng lời chồng”.

            Vì Cha Thi đã nhiều tuổi không đi được nữa, quan bảo giáo dân thuê cáng mà mang ngài. Trước khi lên đường quan huyện còn giết heo cúng tế trời đất và biện bạch: “Không phải lỗi tại tôi muốn bắt bớ những người hiền lành mà chỉ vì tôi phải theo lệnh. Xin án phạt có xuống thì xuống trên người ra lệnh”.

Ngày 16-11, Cha Thi được giải đến Hà Nội và giam trong trại gần cửa đông, không phải ở chung với các tù phạm khác. Các tên lính canh cũng rất tử tế với các ngài, chúng nói: “Chúng tôi biết hai cụ không phải như các tù nhân khác. Hai cụ hiền không nghĩ đến việc trốn đi nên chúng tôi chẳng dám làm khổ các cụ”.

Vì thế Cha Thi không phải mang gông cùm bao giờ, còn Cha Dũng (Lạc) phải mang gông có ba tối. Thức ăn giáo dân mang đến hai cha cũng chia sẻ cho lính canh. Mỗi ngày hai buổi các cụ đọc kinh chung với nhau. Có ba Ro thuộc nhà dòng Kẻ Uối và tổng Thìn lo săn sóc các việc vật chất cho hai ngài.

Hai cha phải tra hỏi ba lần. Phần Cha Thi vì già và nghễnh ngãng nên Cha Dũng thưa thay. Quan huyện cũng bẩm với quan thượng rằng: “Hai thầy đạo thà chịu chết chứ không bước qua ảnh đạo, tôi đã thúc ép hai lần ở dưới huyện mà không thành công. Hai người thật thà xin quan lớn thương”.

Lần thứ ba quan thượng bảo hai cha quá khóa nhưng các ngài không chịu, một tên lính liền đẩy Cha Dũng ngã xuống. ChaThi vì già vẫn ngồi yên liền sấp mình xuống ôm chân thánh giá.

Trước lòng kiên quyết của các ngài, quan làm bản án tử hình cho các ngài như sau: “Sau khi họp hội đồng, các thần là Nguyễn Phúc Hoan, quan hộ, và Lương Mộc Quang, quan án, đã xem xét kỹ lưỡng hai tội phạm Trần An Lạc và Phạm Văn Thi đã theo tà đạo từ thuở nhỏ và dụ dỗ lê dân. Họ đã ghi khắc sâu đạo lý sai lầm từ lâu chứ không phải một vài ngày. Hoàng thượng đã ra nhiều chỉ dụ cấm dạy dỗ dân chúng đạo này và bắt từ bỏ những thói tục sai trái, thế nhưng họ chẳng những đã không tuân lệnh mà còn tàng trữ sách đạo và ẩn trốn cho đến ngày bị bắt. Ðược khuyên bảo bước qua ảnh họ vẫn một mực cố chấp xin được chết hơn là làm điều này. Hiển nhiên là đạo này đã ăn sâu vào tâm hồn chúng. Chúng thần xét nghĩ là họ đáng chết theo như luật quốc gia đã định rằng kẻ nào tàng trữ sách quấy phá, hoặc dạy dỗ thực hành quái lạ thì phải giam trong ngục cho đến khi được định thể khác. Vậy đối với hai tội phạm Trần An Lạc và Phạm Văn Thi các thần muốn áp dụng khoản luật vừa nói nhưng chúng đáng chịu một hình phạt nặng nề hơn, phải chém đầu để răn bảo những người khác”.

Ðể chuẩn bị cho ngày được dâng mạng sống mình vì đức tin, Cha Thi thường xuyên đọc kinh cầu nguyện và ăn chay hãm mình mỗi tuần 4 ngày. Ngày 21-12 cha được rước Mình Thánh lần cuối cùng do Cha Trân mang vào. Giữa trưa hôm đó có người lính báo rằng bản phê án của vua đã tới. Cha Thi nói ngay: “Ðúng là án của chúng tôi rồi”.

Tức thì Cha và Cha Dũng phân phát cho lính canh các đồ dùng còn lại. Ngay sau đó ông lãnh binh đã đem lính đến nhà giam để dẫn giải các ngài đến pháp trường. Cha Thi vì yếu đã ngã trên đường. Lúc ấy có một tên lính đến nói nhỏ mình cũng là người tín hữu Kitô xin được cõng Cha trên lưng. Cha Thi đã cởi đôi xăng đan, một đồ dùng cuối cùng và cho anh ta. Tới Ô Cầu Giấy, Cha Thi quì cầu nguyện trên chiếc chiếu do các bà dòng đã trải sẵn. Ngài cầu nguyện và dáng điệu vững vàng hơn bao giờ hết. Trước khi hành quyết, quan giám sát truyền lệnh cấm không ai được thấm máu tử tù và khi có hiệu thì phải chém đồng loạt. Khi hiệu vừa ban ra, tên lý hình điêu luyện đã chém cổ ngài vừa khít để lại một chút da treo đầu trên cổ để giáo dân dễ dàng ráp lại. Nhưng quan lại bắt phải lấy hẳn đầu ra rồi ông và đoàn tùy tùng mới rút lui.

Giáo dân thu xác Cha Thi lại đem về an táng tại Kẻ Sở. Tên lý trưởng đã bắt Cha Thi về sau bị Chúa phạt hóa điên, còn cô con gái lấy khăn thánh may yếm để mặc đã bị thổ tả chết một ngày sau khi mặc yếm vào người.

 

 

 

Phêrô Trương Văn Thi, linh mục; sanh 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội; chết 21 tháng 12, 1839, tại Ô Cầu Giấy. Ngài đã trên 75 tuổi khi bị xử trảm (chém đầu). Phong Á Thánh 1900. Ngày Lễ: 20 tháng 12.

Thi Van Truong, Pedro (Peter Pham Thi, Phêrô Trương Văn Thi), priest; b. 1763 at Kẻ Sở, Hà Nội, Tonkin; d. Dec. 21, 1839, at Cầu Giấy, Tonkin. He was over 75 years old at the time he was beheaded. Beatified 1900. Feast: Dec. 20.

001. Phêrô Almato Bình

002. Berrio-Ochoa Vinh

003. Gioan Lu-i Bô-na Hương

004. Phaolô Tống Viết Bường

005. Giuse Phạm Trọng Tả

006. Ða Minh Cấm

007. Phanxicô Xaviê Cần

008. Giuse Hoàng Lương Cảnh

009. Catanhêđa, Jacinto Gia

010. Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu

011. Gioan Baotixita Cỏn

012. Jean-Charles Cornay Tân

013. Stêphanô-Théodore Cuénot Thể

014. Matthêô Nguyễn Văn Ðắc (Phượng)

015. Phêrô Ða

016. Ðaminh Ðinh Ðạt

017. Gioan Ðạt

018. Tôma Nguyễn Văn Ðệ

019. Clêmentê Ignaxiô Delgaho Hy

020. Giuse Maria Diaz Sanjuro An

021. Antôn Nguyễn Ðích

022. Vinh Sơn Nguyễn Thế Ðiểm

023. Tôma Ðinh Viết Dụ

024. Bênađô Võ Văn Duệ

025. Phêrô Dumoulin-Borie Cao

026. Anrê Trần An Dũng (Lạc)

027. Phêrô Ðinh Văn Dũng

028. Phaolô Vũ Văn Dương (Ðổng)

029. Phêrô Trương Văn Ðường

030. Vinh-sơn Dương

031. Giuse Fernandez Hiền

032. Phanxicô-Isidore Gagelin Kính

033. Matthêô Lê Văn Gẫm

034. Melchior Garcia-Sampedro Xuyên

035. Phanxicô Gil de Fedrich Tế

036. Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh

037. Phaolô Hạnh

038. Ðaminh Henares Minh

039. Jêrônimô Hermosilla Liêm

040. Giuse Ðỗ Quang Hiến

041. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu

042. Simon Phan Ðắc Hòa

043. Gioan Ðoàn Trinh Hoan

044. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng

045. Augustinô Phan Viết Huy

046. Ðaminh Huyện

047. Micae Hồ Ðình Hy

048. Phanxicô Jaccard Phan

049. Ðaminh Phạm Trọng Khảm

050. Giuse Nguyễn Duy Khang

051. Phêrô Khanh

052. Phêrô Võ Ðăng Khoa

053. Phaolô Phạm Khắc Khoan

054. Tôma Khuông

055. Matthêô Alonzo-Leciniana Ðậu

056. Vinh-sơn Lê Quang Liêm

057. Luca Vũ Bá Loan

058. Phaolô Lê Văn Lộc

059. Giuse Nguyễn Văn Lựu

060. Phêrô Nguyễn Văn Lựu

061. Ðaminh Mạo

062. Ðaminh Mầu

063. Giuse Marchand Du

064. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu

065. Philiphê Phan Văn Minh

066. Augustinô Nguyễn Văn Mới

067. Micae Nguyễn Huy Mỹ

068. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ

069. Giacôbê Ðỗ Mai Năm

070. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông)

071. Phêrô Phanxicô Néron Bắc

072. Phaolô Nguyễn Ngân

073. Giuse Nguyễn Ðình Nghi

074. Lôrensô Ngôn

075. Ðaminh Nguyên

076. Ðaminh Nhi

077. Ðaminh Ninh

078. Emanuen Lê Văn Phụng

079. Phêrô Ðoàn Công Quý

080. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh-Nam

081. Augustine Schoeffler Ðông

082. Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê)

083. Gioan Baotixita Ðinh Văn Thành

084. Nicôla Bùi Ðức Thể

085. Giuse Lê Ðăng Thị

086. Phêrô Trương Văn Thi

087. Mactinô Tạ Ðức Thịnh

088. Tôma Trần Văn Thiện

089. Luca Phạm Trọng Thìn

090. Máctinô Thọ

091. Phêrô Thuần

092. Phaolô Lê Bảo Tịnh

093. Ðaminh Toái

094. Tôma Toán

095. Ðaminh Trạch (Ðoài)

096. Êmanuen Nguyễn Văn Triệu

097. Anrê Trần Văn Trông

098. Phêrô Vũ Văn Truật

099. Phanxicô Trần Văn Trung

100. Giuse Tuân

101. Giuse Tuân

102. Phêrô Nguyễn Bá Tuần

103. Giuse Túc

104. Phêrô Nguyễn Khắc Tự

105. Phêrô Nguyễn Văn Tự

106. Ðaminh Tước

107. Anrê Tường

108. Vinh-Sơn Tường

109. Phêrô Lê Tùy

110. Ðaminh Bùi Văn Úy

111. Giuse Nguyễn Ðình Uyển

112. Phêrô Ðoàn Văn Vân

113. Giuse Thêophanô Vénard Ven

114. Giuse Ðặng Ðình Viên

115. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh

116. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên

117. Vinh Sơn Ðỗ Yến