THÁNH
NỮ ANÊ LÊ THỊ THÀNH
(1781-1841)
Người
Mẹ Công Giáo quyết theo Chúa
đến cùng.
Trong
117 Thánh Tử Ðạo, chỉ
có một vị Thánh Nữ, lại
không phải là nữ tu, mà lá giáo
dân thường, một người
mẹ của 6 người con.
Ðó là Thánh Anê lê Thị Thành, tục
gọi là Bà Ðê, tức là Bà Thánh
Ðê, gọi theo tên của người
con đầu.
Anê
Lê Thị Thành sinh năm 1781 tại
Bái Ðiển, tỉnh Thanh Hóa. Lên
17 tuổi, bà kết hôn với
Ông Nguyễn Văn Nhất, sinh
hạ được 6 con. Suốt
đời bà âm thầm kiên nhẫn
xây dựng tổ ấm yêu thương
gia đình và biến gia đình
thành nguồn suối tình thương.
Bà sống đạo đức
gương mẫu, hy sinh giúp
chồng con, đặc biệt
nuôi dạy con chu đáo theo tinh
thần giáo dục công giáo. Dù
khi con cái đã lớn khôn lập
gia đình, bà vẫn luôn theo dõi
lòng đạo của các con, thúc
giục con cái năng tham dự
Thánh Lễ và nhận lãnh các bí
tích. Bản thân bà rất siêng
năng xưng tội rước
lễ.
Ông
Bà Ðê (tức Lê Thị Thành cùng
chồng) có lòng bác ái hay thương
giúp đỡ người khác,
nhất là trọng kính và sốt
sắng giúp đỡ các linh mục
gặp khó khăn trong thời
cấm đạo. Ông bà dành một
khu nhà đặc biệt để
các linh mục đến trú ẩn.
Chính đức bác ái cùng lòng kính
yêu các linh mục và thiết tha
với việc truyền giáo ấy
đã đưa bà Thánh Ðê đến
phúc tử vì đạo. Khi quan
Tổng đốc Trịnh Quang
Khanh kéo lính đến vây làng Phúc
Nhạc vào sáng lễ Phục
Sinh 14-4-1841, bà Ðê cùng với ông
trùm Cơ vội vàng đưa
Linh Mục Lý trốn dưới
một cái rãnh sau vườn nhà
bà. Nhưng sau một hồi lục
soát gắt gao từ trong nhà ra
tới ngoài vườn, quân của
Trịnh Quang Khanh bắt được
Cha Lý. Bà Thành và ông trùm Cơ cũng
bị bắt ngay lúc ấy.
Trong
lao tù, Anê Lê Thị Thành bị
đánh đập, tra khảo
nhiều lần. Có lần quan
quyền đánh bà bằng roi,
nhưng thấy bà vẫn gan dạ
chịu đựng một cách
vui vẻ, nên lại cho dùng thanh
củi lớn mà quất vào chân
bà, bà vẫn không thối chí. Khi
chồng vào thăm trong tù, bà đã
nói với chồng: “Họ
đánh đập tôi vô cùng hung
dữ, đến đàn ông chưa
chắc đã chịu nổi,
nhưng tôi được ơn
Ðức Mẹ giúp sức, nên không
cảm thấy đau đớn
gì”. Lần khác, quan dùng
trò dã man hơn, buộc hai ống
quần của bà lại, rồi
bỏ rắn độc vào bên
trong. Bà hoảng sợ, nhưng
bà cầu nguyện thiết tha
khiến Chúa nhậm lời ban
cho bà sức mạnh phi thường
để chịu đựng
những thử thách vượt
qua sức người của
bà. Thế là bà giữ được
bình tĩnh một cách lạ lùng.
Bà đứng yên, không nhúc nhích.
Rắn không cắn bà và tìm cách
chui ra ngoài . Các quan điên tiết
lên càng ra lệnh đánh bà dữ
dằn hơn trước.
Một
nhân chứng tên là Ðang về sau
cho biết: “Bà Anê Ðê đã bị
đánh đập tàn bạo đến
nỗi thân hình bà đầy máu
mủ. Vậy mà bà vẫn vui
vẻ và còn muốn chịu khó
hơn nữa”. Con cái đến
thăm bà, thấy mẹ thương
tích vì đòn vọt, khóc lóc thương
mẹ, bà âu yếm vỗ về
các con, khuyên chúng về kiên tâm
cầu nguyện cho mẹ. Chẳng
hạn, Cô Lucia Nụ, con gái út
của bà đến thăm mẹ
trong ngục, thấy áo quần
mẹ loang lổ máu, đã không
cầm được nước
mắt, òa khóc nức nở. Bà
an ủi con: “Con đừng
khóc, Mẹ mặc áo hoa hồng
đấy. Mẹ vui lòng chịu
khổ vì Chúa Giêsu, sao con
lại khóc”. Bà còn nhắn nhủ
cô Nụ: “Con hãy về chuyển
lời mẹ bảo với anh
chị con coi sóc việc nhà, giữ
đạo sốt sắng, sáng
tối đọc kinh xem lễ,
cầu nguyện cho mẹ vácThánh
Giá Chúa Giêsu cho đến cùng.
Rồi chẳng bao lâu nữa,
mẹ con ta sẽ đoàn tụ
trên nước Thiên Ðàng”. Chồng
bà cũng đến khuyên giục
bà nên nghĩ đến con cháu
mà về với chúng. Bà trả
lời: “Anh hãy về lo cho con,
hãy trông cậy Chúa phù hộ cho
anh đủ sức nuôi dưỡng
chúng, còn phần tôi, tôi sẽ
phó thác và theo Chúa đến cùng....”
Vì
chịu quá nhiều cực
hình, thân thể đầy máu
mủ, lại do điều kiện
vệ sinh trong tù quá tồi tệ
và không đủ thuốc thang,
bà Anê Ðê Lê Thị Thành kiệt
sức vì đòn vọt
và bị bệnh kiết lỵ
nên đã chết trong tù ngày 12-7-1841
tại Nam Ðịnh, thọ 60 tuổi,
sau khi dâng lời kinh cuối cùng:
“Giêsu, Maria, Giuse, con xin phó
thác linh hồn và xác con trong tay
Chúa”.
Ðức
Piô X phong Chân Phước cho Bà
ngày 2-5-1909. Và Ðức Gioan Phaolô
II suy tôn Bà lên bậc Hiển Thánh
ngày 19-6-1988, cùng với 116 vị
Thánh khác.
|