THÁNH MICAE NGUYỄN HUY MỸ

(1804-1838)

Ông lý trưởng trẻ đầy bản lãnh

 

Micae Nguyễn Huy Mỹ tên thật là Nguyễn Huy Diệu, sinh năm 1804 tại Ninh Bình, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, song được người dì nuôi nấng cho ăn học đàng hoàng. Lớn lên, Micae Mỹ đi lập nghiệp tại làng Kẻ Vĩnh và kết hôn với cô con gái ông Trùm Ðích cũng lập nghiệp tại Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị). Nguyễn Huy Mỹ có tinh thần phục vụ xã hội, nên dầu tuổi còn trẻ nhưng vẫn được dân làng kính nể, cử làm lý trưởng. Do đó, người ta thường gọi ông là Lý Mỹ.

Micae Nguyễn Huy Mỹ rất có lòng đạo đức, không bao giờ bỏ kinh sáng tối. Dù ban tối trong nhà có chuyện bận, ông cũng bắt mọi người cùng đọc kinh chung trước. Ông tỏ ra gương mẫu trong việc xét mình xưng tội. Khi xét mình, ông thường ghi các tội ra giấy trước hai ngày cho dễ nhớ. Ông đi lễ hàng ngày, và trong Mùa Chay, mỗi tuần ông ăn chay hai ngày Thứ Tư và Thứ Sáu.

Ðối với gia đình, ông Mỹ luôn ăn ở hiền hòa, không bao giờ nặng lời với vợ con, không say sưa, cờ bạc hay ăn nói cọc cằn thô lỗ bao giờ, trái lại luôn làm ăn chuyên cần, săn sóc gia đình và giữ đạo sốt sắng.

Trong vai trò lý tưởng coi sóc việc làng, ông rất phân minh, công bằng, không ăn bớt của công hay nhận tiền quà biếu đút lót mờ ám. Ông thương kẻ khó nghèo. Gặp năm thất mù, ông cung cấp đồ ăn cho họ. Ðối với những kẻ say mê cờ bạc, ông sửa trị nghiêm minh. Ông tận tụy với việc làng, việc xã, nhưng không vì thế mà xao lãng việc đạo, đọc kinh đi lễ hàng ngày và thường hay khuyên bảo kẻ khác cũng năng xưng tội, đọc kinh, đi lễ và rước lễ.

Micae Nguyễn Huy Mỹ cùng với bố vợ là ông Trùm Ðích là những người rất nhiệt thành với công tác truyền giáo của các linh mục, nên thường giúp đỡ các linh mục trốn ẩn tại nhà trong cơn bách hại. Do có kẻ tố cáo, một hôm quan quân kế về Kẻ Vĩnh bố ráp lục xét, bắt được một Linh Mục là Cha Giacôbê Mai Năm lẫn trốn trong làng. Cha Năm bị bắt. Lý trưởng Micae Nguyễn Huy Mỹ cùng ông Trùm Antôn Nguyễn Ðích cũng chung số phận.

Micae Mỹ bị đánh đập hết sức tàn nhẫn, tính ra tới 500 roi, da thịi máu me tung tóe, song ông vẫn can trường không một lời kêu ca. Quan lại khuyên Micae bỏ đạo: “Mày là thằng giỏi lại còn trẻ tuổi, lý sự và coi sóc dân làng khá, dân được nhờ, sao mày dại và chẳng chịu bỏ đạo đi?”

Micea đáp: “Sao tôi lại dại? Khi chưa có tôi đã có dân. Vậy thì trước tôi, hẳn đã co người coi sóc dân làng này. Còn linh hồn tôi thì tôi phải lo mà giữ. Của cải, chức quyền làm sao sánh được với phúc trọng tôi được chết vì đạo”.

Quan lại bảo: “Sao mày không thương vợ con mày? Con cái mày còn thơ dại, mày nỡ long nào mà quên tình phụ tử?”

Micae Mỹ trả lời: “Tôi vốn thương vợ thương con vô ngần, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh vì tôi biết rằng Ðức Chúa Trời sẽ coi sóc thay tôi và ngày sau sẽ cho tôi  gặp lại vợ con tôi trên Thiên đàng”.

Quan bảo: “Thôi! mày hãy bắt chước nhiều đứa đạp lên thập giá bỏ đạo đi rồi tính sau”.

Ông Lý Mỹ bèn lên tiếng: “Quan lớn bảo có nhiều người bỏ đạo? Họ cũng giống như những người lính thấy giặc liền sợ hãi bỏ chạy. Tại sao quan lại dạy tôi bắt chước họ? Giả sử có ai bảo quan lớn đạp đầu đức vua để được quyền cao chức trọng thì chắc quan chẳng dám làm...Chúa chúng tôi thờ làm sao tôi có thể nghe lời quan mà đạp lên”.

Quan dụ dỗ không được, bèn ra lệnh đánh đập ông Lý Mỹ tàn nhẫn hơn.

Vợ và bốn người con của Nguyễn Huy Mỹ tìm cách thăm viếng ông trong tù và luôn khuyên ông chịu khó sẵn lòng hy sinh vì đạo thánh Chúa, đừng bận bịu gì chuyện gia đình. Lời khích lệ của vợ con làm cho Micae Mỹ càng mạnh mẽ vững vàng hơn trong đức tin. Khi thấy bố vợ là ông Trùm Ðích tuổi già sức yếu chịu không nổi  đòn vọt. Micae Mỹ tìm cách yên ủi bố, khuyên bố đừng sợ chết. Nhiều lần ông Mỹ còn đứng ra xin lãnh đòn thay cha vợ.

Ngày 12-8-1838, sau khi bản án được vua Minh Mạng chuẩn y, cùng với Linh Mục Giacôbê Mai Năm và ông Trùm Antôn Nguyễn Ðích, Micae Nguyễn huy Mỹ bị đưa ra xử chém tại pháp trường Bảy Mẫu, Nam Ðịnh, thọ 34 tuổi.

Micae Nguyễn Huy Mỹ được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII phong Chân Phước ngày 27-5-1900 đồng thời với Linh Mục Giacôbê Mai Năm và ông Trùm Antôn Nguyễn Ðích. Ngày 19-6-1988, cả ba vị trên đã được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong bậc Hiển Thánh.

 

 

 

 

Micae Nguyễn Huy Mỹ, Lý trưởng có vợ; sanh 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội; chết 12 tháng 8, 1838, tại Bảy Mẫu. Thánh Mỹ đã từng là thị trưởng của Vĩnh-Trị, nơi rất nhiều vị thánh bị bắt. Ngài phục vụ giáo hội rất trung thánh, nhưng đặc biệt trợ giúp Thánh Antôn Ðích, người con rể, để che chở cho các vị thừa sai trong thời kỳ bách hại. Khi thánh Ðích cố gắng che dấu cha Giacôbe Năm năm 1838, hai ngàiï bị bắt và bị xử trảm (chém đầu). Phong Á Thánh 1900.

My Huy Nguyen, Michael (Michael Mi, Michael Nguyen Huy My, Micae Nguyễn Huy Mỹ), married farmer; b. 1804 in Kẻ Vĩnh, Hà Nội, Tonkin; d. Aug. 12, 1838, in Bảy Mẫu, Tonkin. St. Michael had been mayor of Vinh-Tri, where several of the saints were arrested. He served the Church faithfully, but gave special assistance to St. Anthony Dich, his son-in-law, to protect the missionaries during the persecution. When Dich tried to hide Fr. James Nam in 1838, they were all arrested and beheaded. Beatified 1900

001. Phêrô Almato Bình

002. Berrio-Ochoa Vinh

003. Gioan Lu-i Bô-na Hương

004. Phaolô Tống Viết Bường

005. Giuse Phạm Trọng Tả

006. Ða Minh Cấm

007. Phanxicô Xaviê Cần

008. Giuse Hoàng Lương Cảnh

009. Catanhêđa, Jacinto Gia

010. Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu

011. Gioan Baotixita Cỏn

012. Jean-Charles Cornay Tân

013. Stêphanô-Théodore Cuénot Thể

014. Matthêô Nguyễn Văn Ðắc (Phượng)

015. Phêrô Ða

016. Ðaminh Ðinh Ðạt

017. Gioan Ðạt

018. Tôma Nguyễn Văn Ðệ

019. Clêmentê Ignaxiô Delgaho Hy

020. Giuse Maria Diaz Sanjuro An

021. Antôn Nguyễn Ðích

022. Vinh Sơn Nguyễn Thế Ðiểm

023. Tôma Ðinh Viết Dụ

024. Bênađô Võ Văn Duệ

025. Phêrô Dumoulin-Borie Cao

026. Anrê Trần An Dũng (Lạc)

027. Phêrô Ðinh Văn Dũng

028. Phaolô Vũ Văn Dương (Ðổng)

029. Phêrô Trương Văn Ðường

030. Vinh-sơn Dương

031. Giuse Fernandez Hiền

032. Phanxicô-Isidore Gagelin Kính

033. Matthêô Lê Văn Gẫm

034. Melchior Garcia-Sampedro Xuyên

035. Phanxicô Gil de Fedrich Tế

036. Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh

037. Phaolô Hạnh

038. Ðaminh Henares Minh

039. Jêrônimô Hermosilla Liêm

040. Giuse Ðỗ Quang Hiến

041. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu

042. Simon Phan Ðắc Hòa

043. Gioan Ðoàn Trinh Hoan

044. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng

045. Augustinô Phan Viết Huy

046. Ðaminh Huyện

047. Micae Hồ Ðình Hy

048. Phanxicô Jaccard Phan

049. Ðaminh Phạm Trọng Khảm

050. Giuse Nguyễn Duy Khang

051. Phêrô Khanh

052. Phêrô Võ Ðăng Khoa

053. Phaolô Phạm Khắc Khoan

054. Tôma Khuông

055. Matthêô Alonzo-Leciniana Ðậu

056. Vinh-sơn Lê Quang Liêm

057. Luca Vũ Bá Loan

058. Phaolô Lê Văn Lộc

059. Giuse Nguyễn Văn Lựu

060. Phêrô Nguyễn Văn Lựu

061. Ðaminh Mạo

062. Ðaminh Mầu

063. Giuse Marchand Du

064. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu

065. Philiphê Phan Văn Minh

066. Augustinô Nguyễn Văn Mới

067. Micae Nguyễn Huy Mỹ

068. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ

069. Giacôbê Ðỗ Mai Năm

070. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông)

071. Phêrô Phanxicô Néron Bắc

072. Phaolô Nguyễn Ngân

073. Giuse Nguyễn Ðình Nghi

074. Lôrensô Ngôn

075. Ðaminh Nguyên

076. Ðaminh Nhi

077. Ðaminh Ninh

078. Emanuen Lê Văn Phụng

079. Phêrô Ðoàn Công Quý

080. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh-Nam

081. Augustine Schoeffler Ðông

082. Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê)

083. Gioan Baotixita Ðinh Văn Thành

084. Nicôla Bùi Ðức Thể

085. Giuse Lê Ðăng Thị

086. Phêrô Trương Văn Thi

087. Mactinô Tạ Ðức Thịnh

088. Tôma Trần Văn Thiện

089. Luca Phạm Trọng Thìn

090. Máctinô Thọ

091. Phêrô Thuần

092. Phaolô Lê Bảo Tịnh

093. Ðaminh Toái

094. Tôma Toán

095. Ðaminh Trạch (Ðoài)

096. Êmanuen Nguyễn Văn Triệu

097. Anrê Trần Văn Trông

098. Phêrô Vũ Văn Truật

099. Phanxicô Trần Văn Trung

100. Giuse Tuân

101. Giuse Tuân

102. Phêrô Nguyễn Bá Tuần

103. Giuse Túc

104. Phêrô Nguyễn Khắc Tự

105. Phêrô Nguyễn Văn Tự

106. Ðaminh Tước

107. Anrê Tường

108. Vinh-Sơn Tường

109. Phêrô Lê Tùy

110. Ðaminh Bùi Văn Úy

111. Giuse Nguyễn Ðình Uyển

112. Phêrô Ðoàn Văn Vân

113. Giuse Thêophanô Vénard Ven

114. Giuse Ðặng Ðình Viên

115. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh

116. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên

117. Vinh Sơn Ðỗ Yến