Thánh
Mateo Alonso Liciana Đậu
(Tử đạo ngày 21-1-1745)
Trích Từ Dòng Máu Anh Hùng Tập
I-III của Lm Vũ Thành
Cha Mateo Liciana sinh ngày 26-11-1702 tại
Nave del Rey và nhập tu viện
Đa Minh S. Croce tại Segovia.
Năm 1723, ngài khấn trọn
đời rồi tiếp tục
học thần học và tu đức.
Về tuổi trẻ của
ngài, chúng ta không được
biết gì nhiều. Năm 1729,
tỉnh dòng Phi Luật Tân tuyển
mộ các vị thừa sai để
làm việc tại đây. Cha Mateo
xin ghi tên, nhưng sau lại rút
lui. Ngài cảm thấy xấu
hổ nên xin làm linh mục và phục
vụ tại một tỉnh
dòng khác. Một cơn bệnh
làm cho ngài suy nghĩ nhiều đến
việc từ chối đi truyền
giáo. Dịp may lại đến
để cha có thể chuộc
lại lỗi cũ, ngày 4-7-1729
cha và hai thầy khác nhập đoàn
27 người thừa sai đi
Phi Luật Tân.
Đoàn truyền giáo tới Manila
tháng 10-2730. Cha Mateo được
chỉ định đi Bắc
Kỳ. Ngày 13-2-1731, cha khởi
hành đi với hai tu sĩ khác
bằng tầu buôn Hòa Lan. Ngày
18-1-1732, cha tới Bắc Kỳ
và được đưa tới
nhà Đức Chúa Trời ở
Trung Linh để học tiếng
Việt trong năm tháng. Tại
đây cha được đặt
tên là Đậu. Trong thời
kỳ này giáo dân tại đây
đang bị bách hại do sư
Tình cầm đầu. Cha Đậu
phải trốn tránh nay đây
mai đó, 7 tháng lưu lạc.
Từ năm 1733 cha được
chỉ định coi Nam Thượng,
rồi thêm ba huyện là Giao Thủy,
Vụ Thiên và Chấn Đinh,
sau đó lại thêm Phú Thái và Nam
Chân. Tại đây đang có loạn
nổi lên làm cuộc rao giảng
đạo phải lén lút, khi đi
bộ, khi đi thuyền như
các dân chài. Hồi ấy các cha
thường đi làm phúc các họ
một năm hai lần. Dù đang
cơn bắt bớ, Cha Đậu
rất nhiệt thành với việc
tông đồ. Người chứng
thứ mười hai đã làm
chứng về lòng nhiệt thành
bất kể gian nguy của ngài
rằng có một lần họ
khuyên ngài đừng đến
một làng nguy hiểm thì ngài
trách mắng và khuyên bảo họ
như sau: "Nếu vì sợ
bị bắt mà không đi làm
phúc cho bổn đạo thì cha
đến xứ này để
làm gì? Nếu chúng con sợ vất
vả thì còn làm được
cái gì nữa? Nếu sợ chết
nữa thì theo cha làm chi. Cha đi
một mình vậy".
Suốt trong 10 năm làm việc
tông đồ cha trốn thoát
khỏi tay kẻ thù đến
bốn năm lần. Một
lần khác, hay tin ở làng Kẻ
Bái có một người chối
đạo, tên là Chinh Nam, và trở
thành kẻ thù của người
Công Giáo, Cha Đậu mạnh
mẽ đến gặp ông ta
và dùng lời lẽ khôn ngoan đã
khuyên được ông ta trở
về và làm cho giáo dân ở đó
được an tâm. Ngoài ra tại
Bắc Kỳ lúc đó có nhiều
thiên tai và dịch tễ, Cha Đậu
tỏ ra nhiệt thành bác ái không
sợ bị bệnh tật nữa.
Người chứng thứ 34
nói về lòng bác ái của cha như
sau: "Một năm tại
làng tôi có dịch tễ, Cha Đậu
tới cả ngày cả đêm
không kể thời tiết xấu.
Dù bị bệnh, ngài phó thác nơi
Chúa, vẫn tiếp tục đi
săn sóc các bệnh nhân khác. Cha
Đậu còn sốt sắng
khuyên bảo những người
rượu chè và cờ bạc.
Ngài có tài khuyến dụ họ
bỏ được các thói xấu
đó".
Tóm lại, trong 10 năm cha vừa
trau dồi nhân đức bằng
việc cầu nguyện hãm mình,
vừa sốt sắng làm việc
tông đồ và xả thân cứu
giúp người nghèo khó.
Ngày 29-11-1743, một giáo dân tên
là Đào Tất Đạt đã
đi tố giác nơi cha ở.
Sáng sớm đang khi Cha Đậu
làm lễ thì lính nhà quan ùa đến
Lục Thủy tìm bắt ngài.
Cha Đậu vội cầm mình
thánh trốn vào trong thì bị
tên lính túm tóc đánh vào hông làm
ngài té xuống đất. Tên
này còn đá lên đầu cha làm
máu chảy ra. Mấy tên lính khác
lột áo ngài và đem chia nhau.
Đồng thời họ cũng
bắt luôn Thầy Ignatiô Nguyễn
Văn Quí, còn cha phó Giuse Đinh
thì chạy trốn kịp, và
hai thầy khác là Sien và Dan cũng
cởi trói trốn ra được.
Cha Đậu và Thầy Ignatiô
Quí bị trói và dẫn đến
nhà quan phủ Lê Phong tại Vị
Hoàng. Tới nơi vào nửa
đêm, quan phủ chỉ hỏi
tên tuổi rồi cho lính xích chân
tay và cấm không cho ai được
đến gần. Ít ngày sau, quan
phủ cho giáo dân hay là sẽ thả
cha nếu họ chịu nộp
một số tiền lớn.
Giáo dân gom được 90 lạng
bạc giao cho quan. Quan vui vẻ
nhận nhưng để mặc
giáo dân chờ đợi trong
thất vọng. Có một đêm,
một người lính Công Giáo
đến đòi bẻ xích để
cha trốn đi, nhưng cha đã
không chấp nhận một sự
tự do như thế vì nguy hiểm
cho người lính. Sau cùng họ
giải cha đi Hà Nội, cha
cứ tưởng giờ tử
đạo đã đến nên
dọn mình suốt cả đêm.
Cha bị dẫn đi trong thành
phố như những tên tội
phạm, trẻ con và dân chúng hai
bên đường chế diễu.
Ngày 18-12-1743, cha được
giao cho quan Đề Lĩnh, con
rể của chúa Trịnh, đang
trị nhậm Kẻ Chợ.
Ban đêm cả hai vợ chồng
tới tra vấn và xem cho biết
mặt mũi người Âu Châu
ra sao. Khi quan hỏi tên tuổi,
thời gian cha ở Bắc Việt,
đến đây làm gì và giảng
dậy những gì, Cha Đậu
đã thưa lại tên ngài là
Mateo, đến Bắc Việt
được 12 năm và là thầy
cả của đạo thánh
Đức Chúa Trời, đạo
chân thật, đến xứ
này để giảng về Chúa
chân thật và về ba bậc
cha, đó là Cha Trời Đất,
cha của quốc gia, và cha gia
đình. Sau đó ngài đọc
cho quan nghe 10 điều răn.
Quan Đề Lĩnh lại hỏi
tại sao có lệnh vua quan cấm
đạo mà còn đến? Cha
Đậu trả lời là chính
vì có lệnh cấm mới không
dám xuất hiện công khai, phải
lén lút gặp gỡ giáo dân ban
đêm để có thể giảng
đạo và khuyên nhủ người
ta theo con đường thiện
hảo. Dân chúng nghe tin có người
Âu Châu trong tù cũng tuốn đến
xem. Dầu vậy cha vẫn bị
đối xử như một
người trộm cướp
có sức mạnh chịu mọi
sự cực hình tra tấn. Bốn
tháng trời bị giam giữ
trong nhà tù của quan, Cha Đậu
không ngừng rao giảng đạo
cho những người đến
thăm. Thấy cha giảng vất
vả, lính canh tháo gông để
cha dễ dàng nói về đạo
hơn.
Cha bị tra vấn cả thảy
7 lần, mãi tới ngày 3-4-1744
cha mới được đưa
ra tòa lần đầu tiên cùng
với các đồ đạo
như thánh giá, ảnh đạo
và sách nguyện mà chúng đã tịch
thu. Một trong ba quan án trỏ
vào cây thánh giá hỏi ngài: "Cái
gì đây?"
Cha Đậu trả lời:
"Đó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên
Chúa, đã xuống trần làm
người và chịu khổ
để đền tội cho
nhân loại vì tổ phụ con
người đã bất tuân
lệnh Chúa Trời đất,
và vì không ai chuộc được
lỗi tầy trời ấy
nên Con Chúa Trời đã làm người
chịu chết chuộc tội
và có thể làm cho con người
được lên trời".
Sau đó quan còn hỏi những
bức ảnh Đức Mẹ,
Thánh Giuse, v.v... và nghe đọc
sách nguyện. Quan lại hỏi
về luật trong đạo.
Cha Đậu trả lời:
"Tôi có nhiều sách in chữ
Hán do các tiến sĩ ở Bắc
Kinh, cũng như mấy cuốn
sách in bằng chữ An Nam nữa,
mà nếu quan có đọc thì
chắc sẽ không bắt tôi
giam tù như thế này".
Sau đó quan hỏi về quê
quán và đời sống bên nước
Tây Ban Nha như có nhà cửa, tòa
án không, người đàn bà có
theo đạo như vậy không,
v.v....
Ngày 12-4 cha lại bị đem
ra trước tòa và quan án hỏi:
"Ông có dám đánh cây thánh giá
không?"
- "Bẩm quan tòa, tôi là đạo
trưởng đến đây
để rao giảng luật
đạo đức chân thật
của Chúa, bởi vậy tôi
không khi nào chối đạo
và đánh vào ảnh tượng
là một trọng tội. Luật
mà tôi giảng dậy là chân thật
và công bằng, giúp người
ta thoát bỏ con đường
tội lỗi để trau dồi
đức hạnh trong việc
tôn kính ba bậc cha".
- "Ba bậc cha là những
ai?"
- "Trước hết là Thiên
Chúa cao cả, Cha của mọi
thần thánh, rồi mỗi nước
có vua và các quan, sau cùng là cha mẹ
và các tổ tiên. Con người
đã nhận bao nhiêu ân huệ
từ ba bậc cha này".
Cha Đậu được
đưa ra khỏi tòa và họ
bắt đầu tra vấn Thầy
Ignatio Quí trong hai tiếng đồng
hồ. Sau đó lại gọi
Cha Đậu trở lại và
hỏi có biết Thầy Hoi,
Thầy Xa, Thầy Thiên, và Thầy
Kiên không, đồng thời đe
dọa là không được
nói dối. Cha Đậu trả
lời: - "Không biết. Tôi
chỉ biết tên Ignasio, Luca,
Giovani và Giuse".
- "Quê quán của mấy người
này ở đâu?"
- "Tôi không biết."
Họ liền bàn luận với
nhau về phép Rửa Tội.
Cha Đậu liền nhân cơ
hội nói với họ đầy
đủ về các bí tích: "Chúa
chúng tôi là Đức Giêsu Kitô đã
lập ra 7 nghi thức gọi
là bí tích, phép Rửa Tội là
một trong 7 bí tích đó. Đức
Kitô đã truyền cho các môn đệ
phải đi khắp thế
giới để làm phép Rửa
Tội và giảng luật cứu
rỗi".
- "Trong 13 năm qua ông ở
những đâu?"
- "Tôi đi nhiều nơi
khác nhau, chỉ có tỉnh Nam Định
là ít mà thôi".
- "Có phải là ban đêm đàn
ông đàn bà ngủ chung với
nhau không?"
- "Đây là một lời
vu khống tầy trời nhắm
làm hại người Công Giáo
chúng tôi".
- "Ông có phù phép gì mà làm cho người
ta tin thế? Ông có vợ không?
Chịu vất vả như thế
này ông được thưởng
gì chứ?"
- "Tôi đã dâng hiến trọn
đời cho Chúa và giảng dậy
người ta chỉ làm điều
lành chứ không được
làm những điều ám hại,
và cuối cùng tôi chỉ mong phần
thưởng trên nước trời".
- "Ai đã dẫn ông tới
Bắc Kỳ? Ông sống bằng
cách nào?"
- "Người Trung Hoa đã
dẫn tôi vào. Tôi chỉ sống
bằng của bố thí của
giáo dân. Trong thời giặc giã
thì tôi ở Nam Chan".
Sau đó các quan soạn ra một
bản án như sau: "Tuân theo
các lệnh của chúa, chúng hạ
thần đã xem xét bản tâu
trình của đại quan Lê Phương,
tổng đốc tỉnh Nam
Định, và đô đốc
Điều, người đã
bắt và giao nộp tên đạo
trưởng Đậu và một
số đồ đạo. Chúng
hạ thần ký nhận và chịu
trách nhiệm rằng đạo
trưởng Đậu, còn có
tên là Mateo, từ năm Nhâm Tí
1732 cho đến nay đã sống
tại Giao Thủy và dậy dỗ
dân chúng những điều chẳng
nên và dụ hoặc những người
dân đơn sơ. Vì vậy
quan Lê Phương và quan Điều
đã sai Đào Tất Đạt
truy lùng chỗ ở. Sau khi dò
thám ra nơi ở đã sai binh
sĩ đến bắt giam và
tịch thu đồ đạo.
Họ đã bắt giữ đạo
trưởng Mateo và thầy Nguyễn
Văn Quí cùng với sách luật
và tượng ảnh. Sau khi xem
xét kỹ lưỡng các sự
việc kể trên, chúng hạ
thần quyết định rằng
đạo trưởng 'Hoa Lang'
Mateo đáng tội chết và
Nguyễn Văn Quí phải đầy
chăn voi cho vua và công việc
nặng nhất sẽ dành cho
y. Các đồ đạo thì
phải thiêu hủy. Đối
với quan Lê Phương và quan
Điều vì đã có công với
quốc gia sai lính bắt được
đạo trưởng nên sẽ
trọng thưởng 70 nén bạc.
Đó là bản án chúng hạ thần
đệ trình lên chúa châu phê. Ấn
ký ngày 20-3-1744 (Âm Lịch), năm
thứ năm của Minh Vương".
Tuy nhiên bản án trên đã không
được thi hành, và vì có
loạn nên 6 tháng sau bản án
được đổi sang
lưu đồ chung thân. Bản
án được châu phê, nhưng
ít ngày sau gặp thời kỳ
hạn hán nên chúa Trịnh ra lệnh
giảm các án, Thầy Quí được
trả tự do sau khi nộp
một số tiền, còn Cha Đậu
thì bị tù chung thân. Ngày 30-5-1744
cha được chuyển sang
ngục Đông, nơi Cha Tế
đang bị giam giữ. Cũng
như Cha Tế, ngài thường
ra nhà bà Gạo dùng cơm và được
khá nhiều tự do.
Trong tù, cha ăn mỗi ngày một
bữa, tiền còn lại đem
cho người nghèo, đồng
thời cha còn dậy ba chú học
tiếng Latinh, và giảng dậy
cho những người đến
thăm cha, trong một căn
nhà riêng cạnh nhà tù. Ngày lễ
có tới 150 người đến
dự, có khi họ còn bí mật
võng cha đi thăm kẻ liệt.
Có lần cả hai cha được
đưa đến nói truyện
với một quan trong triều
về đạo và tặng quan
một cuốn sách.
Khi Cha Tế được tin
về án xử thì vui mừng,
còn Cha Đậu thì buồn. Giáo
dân làm bản kiến nghị
để tù nhân kháng cáo lần
cuối khi đi qua phủ chúa
Trịnh, Cha Đậu cũng
xin đi theo để chứng
kiến việc hành quyết và
đồng thời đưa
cho quan bản kiến nghị.
Trong bản kiến nghị ngài
hỏi tại sao bạn ngài bị
chém đầu còn ngài thì không,
trong khi cả hai cùng là đạo
trưởng, nếu chém đầu
thì phải chém cả hai, còn nếu
tha một thì phải tha cả
người kia, và cuối cùng
ngài yêu cầu được
cùng chung một số phận
với người bạn. Chúa
Trịnh thấy hành động
táo bạo như vậy liền
ra lệnh làm một bản án
cho Cha Đậu cùng bị chém.
Bản án được viết
như sau: "Các quan do chúa Trịnh
chỉ định, xét lại
bản án do cấp dưới
đã trình lên như sau: Tên này
trước kia đã bị kết
án tử và bây giờ án được
lập lại. Vậy ngoại
nhân thứ nhất Francis Gil (cha
Tế) là một đạo trưởng
đạo 'Hoa Lang', tên ngoại
nhân thứ hai Mateo (cha Đậu)
cũng là đạo trưởng
đạo 'Hoa Lang'. Tên sau này án
được chuyển sang tù
chung thân nhưng vừa được
đổi thành xử trảm.
Ấn ký ngày 10-12 năm thứ
năm Minh Vương. Quan án:
Phương Hùng, Nghĩa Hậu,
Liêm Ngũ Lục, và Trung Hầu".
Thế là hai cha cùng bị đem
đi với 8 tên tội phạm
khác ra nơi xử.
Một nhân chứng tường
thuật buổi hành quyết
như sau: Hai cha đi vào chỗ
thứ ba và bốn, giữa 8
tên tội phạm khác, bị
xích lại với nhau thành một
hàng. Trời mưa đổ
xuống trên đầu trần
các ngài, thỉnh thoảng các ngài
giơ tay lau nước mưa,
nét mặt vẫn hân hoan. Tới
nơi các ngài quì xuống cầu
nguyện một lát. Sau đó
được đưa tới
mô đất có trải chiếu
sẵn, các ngài lại nằm
phục xuống một lúc rồi
quì lên, nghiêng đầu chờ
lệnh xử trảm. Giáo dân
xin hai cha ban phép lành. Các ngài xin
họ đọc kinh Tin Kính và
sau đó Cha Đậu tính giảng
lần cuối cùng, nhưng một
tên lính ngăn lại nói: "Chúa
Trịnh kết án vì giảng
đạo sai lầm này sao ngươi
còn muốn tiếp tục?"
Cha Đậu liền nói: "Tôi
đến Bắc Việt là để
giảng đạo của Chúa
trời đất để
mọi người dân cư trong
nước này được
biết Ngài là Chúa thật. Tôi
quyết tâm rao giảng vì biết
rằng các vị ở đây
chưa biết Chúa trời đất
và chưa phân biệt được
điều lành điều xấu
và không biết cái gì sẽ xảy
ra cho đời sau".
Một tên lính khác lại nhắc
lại: "Vua gớm ghét đạo
này, sao còn cả gan nói nhảm
nữa?"
Cha Đậu lại nói: "Với
cái chết vì đức tin, chúng
tôi sẽ được phần
thưởng trên nước trời.
Cái chết của chúng tôi làm chứng
cho cả thế gian về sự
thật và sự thánh thiện
của đạo Công Giáo trong
ngày phán xét. Chính vì vậy chúng
tôi không sợ hãi gì cách chết
này mà người ta dành cho chúng
tôi".
Vào lúc 4:00 giờ chiều ngày
22-1-1745, đầu của hai
vị anh hùng tử vì đạo
rơi xuống. Một tên lính
thét lên: "Rồi đây đói
kém và thiên tai sẽ đổ
xuống trên chúng ta. Tại sao
cứ phải giết các đạo
trưởng không hề trộm
cắp giết người? Chúng
ta đều biết rõ họ
là đấng thánh".
Lòng tôn kính các đấng anh hùng
tử đạo đã lôi kéo
nhiều người đến
mộ các ngài để cầu
nguyện và xin ơn. Khi về
họ còn mang theo nắm đất
để kính nhớ các ngài. Cả
những người lương
cũng đến cầu nguyện
nữa.
Một người tên là Giuse
Can đã thề là kể chuyện
có thật sau đây: "Thầy
già Khiêm đã kể cho tôi nghe
chuyện tên lý hình Chân Nhuệ,
đã bắt Cha Đậu trước
đây, bị đau ốm lâu
dài. Sau khi nghe biết Cha Đậu
đã chết vì đạo thánh
thì ông ta hối cải cầu
xin với Cha Đậu phù hộ,
ông ta được khỏi bệnh
cách lạ lùng. Ông ta đã từ
bỏ thần phật để
theo đạo do Cha Đậu
rao giảng".
Một trường hợp khác
được kể lại
là người giữ chùa bị
đau nặng dù đã cầu
đảo các thần phật
và chạy chữa thuốc men
nhưng vẫn không khỏi. Một
người Công Giáo đến
thăm, lặng lẽ nhúng miếng
vải đã được thấm
máu đào của Cha Đậu
vào ly nước rồi cho bệnh
nhân uống mà không nói gì cả.
Bệnh nhân vừa uống hết
ly nước thì cảm thấy
khỏe mạnh. Ông từ giữ
chùa sau đó mới được
biết liền xin trở lại
đạo.
|