THÁNH
GIUSE NGUYỄN DUY KHANG
Chính
thánh Giuse Khang đã nêu cao tấm
gương trung hiếu đó.
Có thể nói suốt cuộc đời
29 năm của Ngài là luôn trung
thành phụng sự Chúa và hiếu
thảo với các vị Mục
tử, đặc biệt với
Cha Liêm, Giám Mục giáo phận
Đông Đàng. Ngài đã
theo phục vụ Đức
Cha đến giờ phút cuối
cùng, để lãnh nhận triều
thiên tử đạo vinh quang!
Giuse
Nguyễn Duy Khang sinh năm 1832,
tại Cao Mại tỉnh Thái
Bình, trong một gia đình Công
Giáo đạo đức.
Ngay từ nhỏ, cậu đã
được Cha Mẹ hướng
dẫn sống đạo sốt
sắng. Nhờ đó khi
lớn lên, cậu đã xin dâng
mình cho Chúa. Lúc đầu
cậu đến ở với
Cha già Năng, một Linh Mục
thánh thiện gương mẫu
thuộc dòng ĐaMinh, để
nhờ Ngài huấn luyện đàng
nhân đức. Sau 10 năm,
cậu được gởi
vào chủng viện Kẻ Mốt.
Lúc đó cậu được
24 tuổi. Trong thời gian
đó, cậu xin gia nhập dòng
ĐaMinh, và khấn làm thầy
giảng.
Thấy
Thầy siêng năng đạo
đức, Đức Cha Liêm
chọn làm phụ tá riêng cho Ngài.
Từ đó, thầy tận tình
phục vụ Đức Cha,
từ việc ghi chép lưu trữ
hồ sơ đến việc
cơm nước giặt giũ
hàng ngày. Việc nào thầy
cũng làm chu đáo ân cần,
khiến Đức Cha phải
tấm tắc khen ngợi:
-Tôi
chưa thấy một người
nào làm việc tận tình siêng
năng chu đáo như thầy
Khang. Chắc chắn thầy
phải có tinh thần hy sinh chịu
khó cao độ mới làm được
như thế.
Nhưng
chưa được bao lâu thì
ngày 5 tháng 8 năm 1861, vua Tự
Đức ra chiếu chỉ
Phân Sáp, bắt đạo gắt
gao trên toàn quốc. Theo chiếu
chỉ, tất cả các tả
hữu phải bị khắc
“Tả Đạo”
lên má, phải phân tán vào các làng
mạc ngoại giáo, để
những người này quản
thúc theo dõi. Các chủng viện
phải đóng cửa, các thánh
đường bị phá hủy,
tài sản Giáo Hội bị tịch
thu, các Linh Mục tu sĩ bị
lùng bắt khắp nơi.
Thật là một thảm cảnh
vô cùng bi đát: vợ chồng
phân ly, con cái xa lìa Cha Mẹ, đàn
chiên vắng bóng chủ chăn”.
Đức
Cha Liêm phải tìm nơi trú ẩn,
để có thể lèo lái con thuyền
Giáo Hội trong cơn phong ba bão
táp. Thầy Khang nhất quyết
xin theo hộ tống Đức
Cha. Thầy nói:
Dù
Đức Cha đi đâu, cực
khổ thế nào con cũng nguyện,
suốt đời phục vụ
Đức Cha. Nếu Đức
Cha được chết vì Chúa,
con cũng xin chết theo.
Lúc
đầu, Thầy với Đức
Cha ẩn trốn trong một
cái hầm ở Thọ Ninh.
Nhưng vì quân lính phát giác, hai cha
con phải chạy sang thị
xã Hải Dương, trú ẩn
trong thuyền của một giáo
hữu tên là Trương Bích.
Chẳng may một hôm đứa
con trai có chuyện gây gỗ với
ông. Nó đi tố cáo ông chứa
chấp các Cha. Quan liền
sai quân đến vây bắt.
Thấy quân lính kéo tới, thầy
Khang nhanh bước ra mũi
ghe nhổ cây sào hăm dọa:
-Nếu
muốn bắt Đức Cha,
hãy bước qua xác tôi.
Vì
thương mến Đức
Cha, Thầy quyết định
chống lại họ, dù có chết
cũng cam lòng. Thật là
một gương trung hiếu
tuyệt vời. Nhưng
Đức Cha gọi Thầy
lại và bảo:
-Con
chớ chống lại họ.
Chúng ta hãy vâng theo thánh ý Chúa.
Nếu Chúa muốn chúng ta chịu
chết để làm chứng
cho Chúa, chúng ta xin vâng lời Người.
Thế
là quân lính tới bắt Thầy
và Đức Cha giải về
Hải Dương, tống vào
ngục, ngày 20 tháng 10 năm 1861.
Ở trong ngục, mặc dầu
bị gông cùm xiềng xích đau
khổ, thầy vẫn vui lòng
chấp nhận, và hằng ngày
kêu xin Chúa giúp sức cho được
trung thành với Chúa đến
cùng. Lúc đó có số giáo
hữu bị bắt giam chung
với Thầy, thầy tổ
chức họ đọc kinh
chung. Mọi người
đều sốt sắng cầu
nguyện mỗi ngày.
Trong
hơn một tháng rưỡi
bị giam ở đây, Thầy
Khang bị đem ra tra tấn
ba lần, lần nào cũng bị
đánh đòn nhừ tử, buộc
đạp lên Thánh Giá chối
đạo. Mặc dầu
đau đớn, Thầy vẫn
can trường bền đỗ
theo Chúa, luôn can đảm tuyên
xưng đức tin. Cuối
cùng, thấy không thể lay chuyển
nổi lòng trung hiếu của
vị chứng nhân Chúa, quan buộc
lòng kết án trảm quyết.
Ngày 6 tháng 12 năm 1861, quân lính
điệu Thầy ra pháp trường
Năm Mẫu. Dọc đường
Thầy luôn dâng lời tạ
ơn Chúa, vì Người đã
thương ban cho Thầy được
trung thành hiếu thảo với
Chúa và Bề Trên đến trọn
đời. Đến nơi,
sau hồi chiêng báo hiệu, lý
hình vung gươm lên, đầu
Thầy rơi xuống, lãnh nhận
triều thiên tử đạo
muôn đời vinh hiển.
Ngày
20 tháng 5 năm 1906, Đức
Thánh Cha Piô X tôn phong Thầy lên
Chân Phước và ngày 19 tháng 6
năm 1988, Đức Gioan Phaolô
II đã suy tôn Thầy lên Hiển
Thánh.
|