Thánh Micae Hồ đình Hy

(1808-1857)

Quan Thái Bộc thanh liêm

 

Hồ Ðình Hy sinh năm 1808 trong gia đình quan lại tại làng Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra thông minh và đạo đức. Chưa đầy 19 tuổi ông đã được cất nhắc lên làm Thư Lại Cửu Phẩm Bộ Công. Ông lập gia đình lúc 20 tuổi.

Ông Micae Hy luôn sống chết với nhiệm vụ được trao phó là một công chức tốt, thương yêu thuộc hạ, chăm sóc kẻ bệnh hoạn, luôn phục vụ công ích xã hội, ít màng đến của cải danh lợi phi nghĩa. Chính nhờ những đức tính cao quý ấy, ông đã được thăng quan đến chức Tham Tán, hàm Lục Phẩm. Dưới triều vua Tự Ðức, ông lên tới chức Thái Bộc, hàm Tam Phẩm, trông coi ngành dệt tơ lụa vải vóc trong hoàng cung và trong cả nước.

Dù làm quan dưới triều đại bách hại đạo Chúa, quan Thái Bộc không ngại tỏ ra mình là người Công Giáo. Trong nhà ông đặt bàn thờ Chúa nơi xứng đáng, thắp đèn và trang trí hoa mỗi ngày. Tuy nhiên, có một thời gian Micae Hy giữ đạo khô khan, quan hệ với một thiếu nữ trẻ và có ba đứa con ngoại hôn, nhưng ông đã sớm biến cải. Ðể chuộc lại tội lỗi, ông đã rửa tội cho cả ba đứa con này và đưa chúng về nuôi dạy tử tế như con cái chính thức. Ông ra sức làm nhiều việc lành phúc đức để đền tội. Có lần ông đã không ngại tự thú: “Tôi nghĩ dù lấy nước của các con sông khắp địa cầu và gội rửa, tội lỗi cũng chẳng được sạch. Có lẽ phải rửa bằng chính máu của tôi mà thôi”. Từ đó, ông chăm chỉ đạo đức nêu gương cho mọi người, nên ông được bầu làm trùm họ và phụ tá cho Ðức Giám Mục địa phận.

Cuối năm 1856, một số quan ghét ông, vì bị ông ngăn chặn họ làm những việc bất chính, nên đã manh tâm làm sở tâu lên vua, tố cáo ông là người theo đạo Gia Tô và vu cáo ông liên lạc với Pháp để âm mưu làm loạn.

Vua Tự Ðức vốn sẵn ghét đạo, nên dù quý mến quan Thái Bộc Hồ Ðình Hy, cũng chiều ý các quan, truyền lệnh bắt giam ông. Ông Hy bị cất chức, bị tra khảo và bị hành hạ đủ cách. Ông quyết một lòng xưng đạo cho đến chết. Nhưng khi bị tra tấn quá đau đớn, ông đã trót khai tên một vài tín hữu mà ông nghĩ là họ đã cao chạy xa bay trốn thoát cả rồi. Không ngờ, quan quân dựa vào lời khai của ông mà đi lục lọi truy nã, bắt được 29 người. Tám người không chịu nổi đòn vọt đã quá khóa, còn 21 người vẫn kiên trung với đức tin nên bị khắc chữ “tả đạo” trên má và bị án lưu đày. Ông cho rằng tất cả bị  bắt là do chính mình, nên ân hận khóc lóc không ngớt, xưng tội xin Chúa thứ tha và kiên quyết dùng máu mình để rửa sạch lỗi lầm ấy. Lại nhờ sự khuyến khích của Ðức Giám Mục địa phận, ông càng thêm can đảm mạnh mẽ, một lòng xưng đạo ra, sẵn sàng chịu nhiều thử thách gian nan hơn nữa để đền tội xứng đáng và trung thành với Chúa.

Không dụ được cựu quan Thái Bộc bỏ đạo, vua Tự Ðức giận dữ kết tội Hồ Ðình Hy “khinh luật nước, theo tả đạo”. Vua ra án chém đầu ông “để làm gương”, lại truyền rằng: “Ta hạ lệnh cho năm quan triều đình và mười lăm binh sĩ dẫn y đi vòng quanh Thành Nội ba ngày. Khi đi ngang qua chợ và nơi công cộng phải rao nó lên cho dân biết... Cứ tại mỗi ngã ba đường, ta truyền đánh y thêm ba mươi trượng. Sau ba ngày như thế thì chém đầu y”.

Sau ba ngày 15,18 và 21 bị lôi đi làm nhục giữa chợ và bị đánh đòn khắp các ngã ba đường, quan Thái Bộc Hồ Ðình Hy tuy đã đuối sức, song vẫn nhất quyết không bỏ đạo, nên sáng hôm sau, ông bị điệu ra pháp trường và bị xử trảm tại An Hòa, Huế ngày 22-5-1857.

Ngày 2-5-1909, Ðức Giáo Hoàng Piô X phong Chân Phước cho anh hùng tử đạo Micae Hồ Ðình Hy. Và ngày 19-6-1988 Ðức Gioan Phaolô II tôn phong Ngài lên bậc Hiển Thánh.

 

 

Micae Hồ Ðình Hy, Quan Thái Bộc; sanh 1808 tại Nhu Lâm, Thừa Thiên; chết tháng 22 Năm, 1857 tại An-Hòa (gần Huế). Thánh Hy sanh trưởng trong một gia đình vọng tộc, có đạo. Ngài trở thành một viên quan lại cao cấp và trông nom nhà máy dệt tơ của triều đình. Một thời gian khá lâu, ngài không giữ đạo, nhưng rồi ngài trở thành một người lãnh đạo và che chở cho các người công giáo khác. Bị xử trảm (chém đầu). Phong Á Thánh 1909.

Hy-Dinh-Ho, Michael (Michael Ho dinh Hy, Micae Hồ Ðình Hy), mardarin (high government official); b. c. 1808 at Như Lâm (Nhu-lam), Cochin-China; d. May 22, 1857 at An-Hoa (near Huế, North Cochin-China. St. Michael was born into a noble, Christian family. He became a Great Mandarin and superintendent of the royal silk mills. For a long time he did not practice his faith, but eventually he became a leader and protector of his fellow-Christians. Beheaded. Beatified 1909.


 

001. Phêrô Almato Bình

002. Berrio-Ochoa Vinh

003. Gioan Lu-i Bô-na Hương

004. Phaolô Tống Viết Bường

005. Giuse Phạm Trọng Tả

006. Ða Minh Cấm

007. Phanxicô Xaviê Cần

008. Giuse Hoàng Lương Cảnh

009. Catanhêđa, Jacinto Gia

010. Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu

011. Gioan Baotixita Cỏn

012. Jean-Charles Cornay Tân

013. Stêphanô-Théodore Cuénot Thể

014. Matthêô Nguyễn Văn Ðắc (Phượng)

015. Phêrô Ða

016. Ðaminh Ðinh Ðạt

017. Gioan Ðạt

018. Tôma Nguyễn Văn Ðệ

019. Clêmentê Ignaxiô Delgaho Hy

020. Giuse Maria Diaz Sanjuro An

021. Antôn Nguyễn Ðích

022. Vinh Sơn Nguyễn Thế Ðiểm

023. Tôma Ðinh Viết Dụ

024. Bênađô Võ Văn Duệ

025. Phêrô Dumoulin-Borie Cao

026. Anrê Trần An Dũng (Lạc)

027. Phêrô Ðinh Văn Dũng

028. Phaolô Vũ Văn Dương (Ðổng)

029. Phêrô Trương Văn Ðường

030. Vinh-sơn Dương

031. Giuse Fernandez Hiền

032. Phanxicô-Isidore Gagelin Kính

033. Matthêô Lê Văn Gẫm

034. Melchior Garcia-Sampedro Xuyên

035. Phanxicô Gil de Fedrich Tế

036. Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh

037. Phaolô Hạnh

038. Ðaminh Henares Minh

039. Jêrônimô Hermosilla Liêm

040. Giuse Ðỗ Quang Hiến

041. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu

042. Simon Phan Ðắc Hòa

043. Gioan Ðoàn Trinh Hoan

044. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng

045. Augustinô Phan Viết Huy

046. Ðaminh Huyện

047. Micae Hồ Ðình Hy

048. Phanxicô Jaccard Phan

049. Ðaminh Phạm Trọng Khảm

050. Giuse Nguyễn Duy Khang

051. Phêrô Khanh

052. Phêrô Võ Ðăng Khoa

053. Phaolô Phạm Khắc Khoan

054. Tôma Khuông

055. Matthêô Alonzo-Leciniana Ðậu

056. Vinh-sơn Lê Quang Liêm

057. Luca Vũ Bá Loan

058. Phaolô Lê Văn Lộc

059. Giuse Nguyễn Văn Lựu

060. Phêrô Nguyễn Văn Lựu

061. Ðaminh Mạo

062. Ðaminh Mầu

063. Giuse Marchand Du

064. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu

065. Philiphê Phan Văn Minh

066. Augustinô Nguyễn Văn Mới

067. Micae Nguyễn Huy Mỹ

068. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ

069. Giacôbê Ðỗ Mai Năm

070. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông)

071. Phêrô Phanxicô Néron Bắc

072. Phaolô Nguyễn Ngân

073. Giuse Nguyễn Ðình Nghi

074. Lôrensô Ngôn

075. Ðaminh Nguyên

076. Ðaminh Nhi

077. Ðaminh Ninh

078. Emanuen Lê Văn Phụng

079. Phêrô Ðoàn Công Quý

080. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh-Nam

081. Augustine Schoeffler Ðông

082. Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê)

083. Gioan Baotixita Ðinh Văn Thành

084. Nicôla Bùi Ðức Thể

085. Giuse Lê Ðăng Thị

086. Phêrô Trương Văn Thi

087. Mactinô Tạ Ðức Thịnh

088. Tôma Trần Văn Thiện

089. Luca Phạm Trọng Thìn

090. Máctinô Thọ

091. Phêrô Thuần

092. Phaolô Lê Bảo Tịnh

093. Ðaminh Toái

094. Tôma Toán

095. Ðaminh Trạch (Ðoài)

096. Êmanuen Nguyễn Văn Triệu

097. Anrê Trần Văn Trông

098. Phêrô Vũ Văn Truật

099. Phanxicô Trần Văn Trung

100. Giuse Tuân

101. Giuse Tuân

102. Phêrô Nguyễn Bá Tuần

103. Giuse Túc

104. Phêrô Nguyễn Khắc Tự

105. Phêrô Nguyễn Văn Tự

106. Ðaminh Tước

107. Anrê Tường

108. Vinh-Sơn Tường

109. Phêrô Lê Tùy

110. Ðaminh Bùi Văn Úy

111. Giuse Nguyễn Ðình Uyển

112. Phêrô Ðoàn Văn Vân

113. Giuse Thêophanô Vénard Ven

114. Giuse Ðặng Ðình Viên

115. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh

116. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên

117. Vinh Sơn Ðỗ Yến