THÁNH
PHÊ RÔ THI VÀ ANRÊ DŨNG LẠC
(bị
bắt 10-11-1839, xử trảm
21-12-1839)
Cha
Anrê Dũng sinh khoảng năm
1795 tại tỉnh Bắc Ninh,
Cha mẹ không có đạo. Năm
12 tuổi cậu Dũng đi
về Hà Nội rồi theo đạo
và ở nhà thầy với Cha
chính Leroy (Lan) đang làm bề
trên trường Kẻ Vĩnh.
Cậu
Dũng có trí nhớ lạ lùng,
xem giấy tờ gì chỉ hai
lần là nhớ hết, một
tuần lễ đã học thuộc
hết sách bổn. Ngài còn thông
thạo chữ Nho và chữ La
Tinh. Sau 3 năm ở trường
Kẻ Vĩnh, cậu Dũng
được rửa tội
và giao cho một cha Việt Nam
trông coi, 8 năm sau được
lĩnh bằng thầy giảng.
Tiếp tục làm thầy giảng
được 10 năm thì bề
trên sai thầy về học lý
đoán để làm linh mục.
Ngày 15-3-1823 thầy Dũng được
Ðức Cha Longer phong chức linh
mục, lúc ấy mới có 28
tuổi.
Trước
hết Cha Dũng được
sai đi giúp Cha Khiết ở
Ðồng Chuối rồi giúp Cha
Thi ở xứ Ðoài và Cha Duyệt
ở Sơn Miêng. Sau đó Ðức
Cha cử ngài làm chính xứ Kẻ
Ðầm lúc ngài 40 tuổi. Ở
đâu Cha Dũng cũng được
mọi người quí mến
vì ngài đối xử khôn khéo
lại giảng đạo sốt
sắng. Ngài rất nhiệm nhặt
trong việc ăn mặc, Mùa
chay, ngài ăn chay mọi ngày,
nhiều khi cả những ngày
thứ Tư và thứ Sáu trong
năm nữa. Trong thời kỳ
bị cấm đạo Cha Dũng
phải trà trộn ở trong
nhà giáo dân, nếu họ dọn
cơm thịt hay cá lớn thì
ngài trách: “Ðừng làm như vậy,
hãy mua tôm tép như thường
dân khác mà ăn”.
Cha
Dũng còn có lòng thương giúp
những người nghèo túng.
Khi được mời đi
kẻ liệt, ngài đi một
mình để tránh cho các thầy
khỏi bị bắt. Khi không
đi làm phúc được, Cha
Dũng thường sai các các
thầy đi các nơi để
thăm hỏi và khuyên bảo
giáo dân tìm đến ngài mà xưng
tội. Lúc ngài coi xứ Kẻ
Ðầm thì các nhà chung đã phải
rỡ hết.
Năm
1835 ông Lý Nhâm vì ghét Tổng Thìn
là người có đạo, muốn
cho ông phải tội đã đem
lính đến bắt Cha Dũng
cùng với 30 giáo dân đang xem
lễ ở Kẻ Sui. Ông Tổng
Thìn phải đưa 6 nén bạc
cho quan huyện Hào Khánh ở Ðôn
Thư xin liệu việc với
quan phủ cho khỏi án. Quan huyện
lấy 4 nén còn hai nén cho người
nhà quan phủ và trình rằng:
“Cậu tôi về xem lễ ở
Kẻ Sui mà quan bắt thì xin tha”.
Cha
Dũng được tha về
còn những người khác bị
giam lại 21 ngày. Sau đó Cha
Dũng phải đổi tên
là Lạc vì quan quân đã biết
tên ngài. Cha Lạc thường
hay xuống tỉnh Nam Ðịnh
thăm viếng an ủi các giáo
dân bị bắt. Ngài nói với
những người khác rằng:
“Những người chết
vì đạo thì được
lên thiên đàng ngay, còn tôi cứ
phải ẩn trốn và mất
nhiều tiền bạc mới
thoát khỏi tay các quan, thà rằng
tôi bị bắt và chết vì
đạo thì hơn”.
Sau
7 năm làm cha Sở Kẻ Ðầm,
khoảng 4 năm sau lần bị
bắt trước, Cha Lạc
bị bắt lại ngày 10-11-1839,
khi ngài sang thăm và xưng tội
với Cha già Thi ở Kẻ Sui.
Ông Lý Pháp không biết Cha Lạc
nên có nhiều người dục
ngài trốn đi, nhưng ngài
nói: “Phó mặc cho ý Thiên Chúa, đây
sẽ là lần thứ hai tôi
bị bắt vì Chúa Giêsu Kitô”.
Vì
vậy khi Lý Pháp hỏi ngài có
phải là cụ đạo không,
ngài nhận ngay nên bị bắt
trói lại. Giáo dân muốn có cha
giúp đỡ phần thiêng liêng
cho họ nên đã phải chạy
tiền mới xin cho Cha Lạc
được tự do. Cha Lạc
dùng thuyền về nhà nhưng
trên đường gặp mưa
gió lớn phải đến
một nhà quen trú ẩn. Cũng
lúc đó, vì nghe Lý Pháp bắt được
cụ đạo nên quan huyện
đang dẫn người đi
tới. Người nhà thấy
vậy vội hô lên nho nhỏ
để người chèo thuyền
không ghé lên bờ: “Quan! Quan!”
Nhưng
người chèo thuyền lại
nghĩ là người ta nói đùa
nên cứ ghé lên bờ. Cha Lạc
liền bị chận hỏi,
ngài nhận mình là cụ đạo
nên bị bắt trói còn những
người khác chạy trốn
được. Ðêm ấy Cha Lạc
ngồi nói chuyện vui vẻ
với linh canh và người
nhà quan. Cha nói: “Vua cấm đạo
và Ðức Chúa Trời định
cho tôi phải bắt, tôi không
sợ gì, trái lại vui nữa
là khác”.
Sáng
hôm sau quan ngồi ăn một
mâm, Cha Lạc cũng ngồi
ăn một mâm, quan nói: “Ông ngồi
một mình một mâm thì cũng
là quan bên đời”.
Trước
khi đưa về huyện,
quan sai làm gông bằng tre nhẹ
đeo vào cổ Cha Lạc.
Về
tới huyện Bình Lục, quan
nói với Cha Lạc: “Tôi không
có ý bắt ông nhưng kẻ tố
giác cứ lên cáo mãi nên tôi phải
đi”.
Cha
Lạc thưa lại: “Ông không
có ý bắt tôi thì hãy tha tôi về”.
Quan
đáp: “Bây giờ sự việc
đã lộ rồi không làm gì
được nữa”. Quan nói
như vậy là có ý muốn ăn
tiền đút lót, nên giáo dân lo
gom góp tiền, và ông Cửu Bình
cũng muốn cầm cả
cơ nghiệp để có đủ
tiền chuộc cha về, ông
viết thư cho ngài: “Thưa
cha, cha chịu chết thì một
mình cha lên thiên đàng, mà nếu
cha còn ở lại thì bổn
đạo chúng con được
nhờ, vậy xin cha nghĩ lại”.
Nhưng cha Lạc đã cấm
họ đem tiền chuộc,
cha nói: “Tôi bị bắt lần
này là lần thứ ba, thì đó
đúng là thánh ý Chúa định
cho tôi như vậy, anh chị
em đừng mất tiền
chuộc tôi làm gì”.
Ðức
Cha Retord (Liêu) cũng sai Thầy
Sự mang 5 nén bạc đi chuộc
Cha Thi và Cha Lạc, đức
cha nói: “Hai cụ ấy tốt
lắm, có thể chuộc được
thì chuộc”.
Cha
Lạc nói lại với Thầy
Sự: “Thầy nghĩ mà xem,
tôi cũng như Thánh Phêrô, khi
phải bắt lần trước
được giáo dân cầu
nguyện cho và được
về, lần thứ hai giáo dân
cũng lo liệu cho được
thoát khỏi, nhưng ý Chúa đã
định cho tôi phải chết
vì Người như thánh Phêrô,
thì nói bổn đạo đừng
chuộc tôi nữa”.
Quan
huyện lấy lời ngọt
ngào dụ dỗ hai cha quá khóa,
với Cha Lạc ông nói: “Thầy
đạo, thầy biết nhiều
chữ nghĩa và còn trẻ nữa
thì tại sao lại muốn chết,
có phải là uổng không? Hãy tin
tôi đi, nhắm mắt lại
bước qua ảnh thánh hoặc
chỉ đi vòng chung quanh, nếu
thầy muốn thì để
cho lính của tôi khiêng thầy
qua, tôi sẽ làm án tha ngay”.
Cha
Lạc dõng dạc thưa lại:
“Tôi không bao giờ làm theo ý quan
vừa nói đâu. Hãy khép án tôi
phải cắt trăm mảnh
thì hơn”.
Không
lay chuyển được lòng
hai cha, quan huyện làm tờ trình
là bắt được hai cha
ở ngoài ruộng để
không ai bị phiền vạ lây,
rồi dẫn giải cả
hai về Hà Nội giao cho quan
án. Về sau Cha Lạc sai người
nhà mang rượu và 100 viên thuốc
biếu quan huyện để
cám ơn ông đã khai như vậy.
Với
giáo dân đi theo tiễn đưa
khóc lóc, Cha Lạc nói: “Chúng tôi
cám ơn anh chị em, anh chị
em hãy về nhà và sốt sắng
làm tôi thờ phượng Chúa
cũng như là chúng tôi còn ở
giữa anh chị em. Than khóc như
thế này không có ích lợi gì
mà còn tăng thêm sự phiền
khổ cho chúng tôi”.
Ngay
ngày hôm sau khi vào nhà tù ở Hà Nội,
ngày 17-11, các quan bắt đầu
cuộc thẩm vấn, chính Cha
Lạc thuật lại trong thơ
gởi cho Ðức Cha Jeantet như
sau: “Ngày 17, quan đã giao nộp
chúng con cho quan án để truyền
lệnh bắt chúng con bước
qua ảnh thánh giá. Vì chúng con từ
khước nên năm sáu anh linh
xấn lại khiêng chúng con
qua. Cha Thi đã ôm được
thánh giá nhấc lên và hôn kính. Phần
con, con cho chân lên rất cao và nói
với họ: “Hãy chặt bớt
chân ta đi, ta rất bằng
lòng chứ đừng hòng trông
ta chối đạo”.
Sau
đó quan lại hỏi vì sao
đạo không cho phép thờ
kính tổ tiên. Con đáp lại:
“Nếu có ai chào khi cha mẹ đang
ngủ thì không có kể là tôn kính
bởi vì các ngài không biết gì.
Cũng một lẽ ấy còn
mạnh hơn đối với
người đã chết”.
Ngày
19 các quan lại gọi chúng con
ra tòa lần thứ hai để
ép buộc chúng con. Lần này họ
bắt con đeo gông nặng hơn,
và ngày 21 lại thay bằng xiềng.
Xiềng của Cha Thi nhẹ
hơn. Bốn ngày đầu
con cứ chảy nước
mắt hoài khi nghĩ đến
các cha thừa sai và các anh em con.
Nhưng từ ngày 15 tới nay
thì con vui vẻ và bằng lòng,
coi các khổ cực như không.
Con thương Cha Thi vì tuổi
cao không kham nổi những khốn
khổ. Chúa đã thêm sức cho
chúng con để không lo lắng
gì nữa”.
Ðức
Cha Jeantet viết thư cho hai
cha để nâng đỡ các
ngài bền gan chịu khổ
cho đến cùng và xin Cha Lạc
thuật lại các câu đối
đáp với các quan. Cha Lạc
đã viết thư trả lời:
“Thưa Ðức Cha, khi chúng con
được thư đức
cha an ủi thì cảm động
chảy nước mắt ra.
Chúng con là gì mà được
các cha thương lo lắng.
Chúng con không biết nói sao cho hết
lòng biết ơn của chúng
con. Riêng với đức cha,
xin đức cha cầu cùng Chúa
cho chúng con được giữ
nghĩa cùng Chúa cho đến
cùng. Chúng con đã viết tất
cả những gì xảy ra cho
chúng con trong tù cho đến bây
giờ, con vẫn phải đối
đáp những lời châm biếm
của các người tù khác châm
biếm đạo thánh. Con xin
đức cha thương nhớ
đến chúng con. Trong nhà tù rất
khó viết thư cũng như
nhận thư. Con không còn gì để
viết. Vững mạnh như
núi thái. Trần An Dũng”.
Ngày
30-11, các quan cho đòi hai cha lên
để ký nhận bản ản.
Tuy nhiên các quan còn cố ép các cha
quá khóa. Một người nhắc
đến việc Thầy Phanxicô
đã muốn chết hơn là
chối đạo. Cha Lạc
nhân cơ hội nói lên sự
can đảm của mình: “Người
tín hữu mà quan vừa nói chỉ
là một đồ đệ
của chúng tôi, đã biết
chọn nghĩa vụ hơn
là sự sống. Còn chúng tôi là
các thầy đạo lại
kém lòng can đảm hơn không
dám đi theo con đường
chúng tôi đã vạch ra cho họ
sao? Không bao giờ, thưa các
quan, các quan đừng chờ
đợi việc hèn nhát này”.
Các
quan bế mạc phiên tòa nói với
nhau: “Bọn chúng bám vào tôn giáo
đến nỗi điên khùng”.
Ba
lần bị tra khảo nhưng
các ngài không bị đánh đập
tàn nhẫn, chỉ một vài
cái tát mà thôi. Cha Lạc làm một
bài thơ gửi cho Cha Thực
nói lên chí khí của người
Kitô:
Lạc rầy đã rõ chốn
quân quan.
Bút
chép thơ này gửi thở than.
Lòng
nhớ bạn non còn vất vả.
Dạ
thương khách chạy chưa
yên hàn.
Ðông
qua tiết lại thời xuân
tới.
Khổ
tạm mai sau hưởng phúc
an.
Làm
kẻ anh hùng chi quản khó.
Nguyện
xin cùng gặp chốn thanh nhàn.
Tuy
không phải chịu khốn khổ
nhiều nhưng lòng các cha hằng
muốn cho mình được
xứng đáng đổ máu đào
vì Chúa. Các ngài xin với những
người nhà cầu nguyện
để các ngài được
bền vững trong khi chờ
án tử. Các quan đã làm án xử
trảm cho các ngài. Ngày 20 Cha Trân
mang Mình Thánh Chúa cho hai cha. Ngày hôm
sau bản châu phê án được
mang về tới Hà Nội. Cha
Dũng cùng với Cha già Thi vui
mừng hát thánh ca theo chân lý hình
ra khỏi thành. Tới nơi,
các ngài quì cầu nguyện, ngước
mắt lên trời và nghiêng cổ
ra cho lý hình chém. Nhiều người
làm chứng là đã nhìn thấy
một con chim trắng, to lớn
hơn chim bồ cầu, bay lượn
trên các ngài lúc hành quyết. Lệnh
quan vừa dứt, đầu
Cha Dũng cũng rơi xuống
đất. |